Trong
kinh nói, "khi một người có cảm giác khó chịu thì buồn rầu, sầu muộn, rên
rỉ, than khóc, đấm ngực, và trở nên quẫn trí".
Như
vậy, người ấy đã chồng thêm một lớp khổ tâm lên trên cái khổ thuộc về thân, và
kết quả người ấy phải chịu hai loại cảm thọ: khổ thân và khổ tâm. Trong trường
hợp đó người ấy đang có khổ khổ.
Tứ
diệu đế không phải là cái gì cao siêu vượt khỏi đời sống thế tục mà là những
pháp ta có thể thấy, quan sát và chiêm nghiệm ngay trong những sinh hoạt hàng
ngày của mình. Những sinh hoạt đó biểu hiện qua mối quan hệ giữa các giác quan
và các đối tượng bên ngoài. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, làm khởi sinh
lên sáu thức. Sự gặp gỡ của căn, trần và thức gọi là xúc (phassa), và do có xúc
mà có cảm thọ phát sinh.
Trong kinh Đức Phật nói đến
cảm thọ thuộc về tâm, và cảm thọ thuộc về thân. Ngài cũng nói đến 3 loại cảm thọ:
khổ (dukkha), lạc (sukha), và không khổ không lạc (adukkhamasukha). Đôi lúc
ngài lại nói đến 5 loại cảm thọ: lạc (sukha), khổ (dukkha), hỷ (somanassa), ưu
(domanassa) và xả (upekkhā).
Mặc dù có cảm thọ lạc và
xả, Đức Phật nói thêm rằng "Bất cứ cái gì được cảm nhận, cái đó đều có thuộc
tánh đau khổ. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao khổ lại phát sinh từ cảm thọ.
Trước hết, tại sao cảm
giác khó chịu làm phát sinh đau khổ? Ở đây chúng ta cần chú ý rằng Đức Phật và
các bậc thánh vẫn có những cảm giác khó chịu, hay nói chính xác là các thọ khổ
thuộc về thân. Chừng nào các ngài còn có thân ngũ uẩn thì chừng đó các ngài còn
phải chịu các loại bệnh tật và còn có các cảm giác đau đớn, nhưng đối với các
ngài các cảm giác đau đớn không đưa đến đau khổ. Đây là điểm khác biệt giữa một
kẻ phàm phu và một bậc thánh. Kẻ phàm phu, khi có một cảm giác khó chịu, dưới ảnh
hưởng của sân tuỳ miên, liền cố gắng mọi cách để xua cảm giác đó đi càng sớm
càng tốt. Trong kinh nói, "khi một người có cảm giác khó chịu thì buồn rầu,
sầu muộn, rên rỉ, than khóc, đấm ngực, và trở nên quẫn trí". Như vậy, người
ấy đã chồng thêm một lớp khổ tâm lên trên cái khổ thuộc về thân, và kết quả người
ấy phải chịu hai loại cảm thọ: khổ thân và khổ tâm. Trong trường hợp đó người ấy
đang có khổ khổ (dukkha-dukkha).
Trong cuốn
Sammohavinodanī, chú giải của Bộ Phân Tích, các nhà chú giải giải thích rằng khổ
thân và khổ tâm được gọi là khổ khổ là do đặc tánh riêng của chúng vốn là khổ,
bởi vì tên của nó là như vậy, và bởi vì sự đau đớn của nó. Nhưng chúng ta có thể nói một cách đơn giản
rằng nó được gọi là khổ khổ vì ở đây có tới hai lớp khổ chồng lên nhau, một là
khổ thân và hai là khổ tâm. Trong hai lớp khổ này, theo chú giải, có tám yếu tố
gây nên các cảm giác khổ thuộc về thân, đó là do sự rối loạn của mật, đàm, của
yếu tố gió trong cơ thể, do sự mất cân bằng của các chất nội tiết, do sự thay đổi
của thời tiết, do bất cẩn, do những sự tấn công từ bên ngoài hay do nghiệp đã
làm trong quá khứ. Trong khi đó, những thọ khổ của tâm là do sân hận gây nên.
Tâm sân này là gây nên bởi một dạng tham ái, gọi là phi hữu ái. Ở đây, đó là sự
tham ái mong muốn sự không hiện hữu của thọ khổ. Khi một người phàm phu có thọ
khổ, người ấy không muốn có cảm thọ đó, mà muốn có một thọ lạc thay thế. Nguyên
nhân của thứ tâm lý này, theo Đức Phật dạy, là do "người đó không biết một
cách nào để thoát ly khổ thọ ngoại trừ dục lạc". Vậy thì đâu là lối thoát
cho thứ khổ-khổ này? Trong Tương Ưng Bộ kinh, phần thọ tương ưng, Đức Phật đã
chỉ cho chúng ta một phương thức để thoát ly khổ khổ. Nếu có thọ khổ khởi lên
cho một người nào, người đó nên hiểu rằng "một thọ khổ đã khởi lên trong
tôi". Người đó nên hiểu rằng thọ khổ này phụ thuộc vào xúc mà phát sanh,
nên nó là vô thường, là do duyên mà sanh khởi, là phụ thuộc vào các pháp khác.
Người đó biết rằng cảm thọ đó sinh lên và diệt đi, nó không tồn tại mãi. Bằng
cách quán sự vô thường và sự biến mất của cảm thọ, người đó loại bỏ được sân tuỳ
miên đối với thọ khổ. Nhờ vậy,
khi có một cảm giác khó chịu, người ấy cảm nhận nó một cách khách quan, và chỉ
có chịu một thọ khổ duy nhất là thọ khổ về thân, chứ không bị khổ tâm.
Tiếp theo, làm thế nào mà
thọ lạc cũng dẫn đến đau khổ? Khi người phàm phu cảm nhận một thọ lạc, người đó
không dừng lại ở mức độ chỉ quan sát nó. Người đó thường có khuynh hướng bám
víu lấy nó, do ảnh hưởng của dục ái tuỳ miên. Người đó không biết rằng cái cảm
giác dễ chịu này là vô thường, và chắc chắn sẽ phải diệt đi. Người đó vui thích
trong thọ lạc, và muốn kéo dài nó. Trường hợp này chính là hữu ái, lòng tham muốn
đối với sự hiện hữu của thọ lạc. Nhưng các pháp thì luôn luôn thay đổi, và
không có thọ lạc nào có thể kéo dài vô tận, và điều đó dẫn đến sự thất vọng và
đau khổ. Loại đau khổ này gọi là hoại khổ. Chú giải Bộ Phân Tích nói rằng
"thọ lạc của thân và tâm được gọi là hoại khổ bởi vì nó là nguyên nhân của
sự phát sanh đau khổ qua sự thay đổi vô thường của chúng. Phương pháp để thoát khỏi loại khổ này là
"hiểu được một cách như thực sự khởi sanh và hoại diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ này". Thấy được bản chất của sự sanh diệt,
và tất cả những khía cạnh khác, thì khi một người cảm nhận một thọ lạc, người
đó cảm nhận nó một cách khách quan, và do đó không còn bị đau khổ.
Cuối cùng, làm thế nào mà
thọ xả cũng dẫn đến đau khổ? Khi người phàm phu, cảm nhận một thọ xả, do cảm thọ
này quá nhẹ, quá vi tế, người đó cảm thấy chán, và muốn làm một cái gì đó để có
một cảm giác mạnh hơn. Cái ý muốn làm cái gì đó để có lạc thú manh mẽ hơn cũng
là một dạng tham ái, được gọi là dục ái, tức là tham ái đối với dục lạc. Loại
tham ái này chịu ảnh hưởng của vô minh tuỳ miên, tức là không hiểu được sự sanh
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ này. Trong nổ lực đi
tìm cảm giác mạnh, người ấy tạo nên hành khổ. Chú giải của bộ Phân Tích giải
thích rằng thọ xả và các hành còn lại trong tam giới được gọi là hành khổ bởi
vì chúng bị áp bức bởi sự sanh diệt.
Như vậy khổ tâm được gây
ra bởi tham ái đối với các cảm thọ. Vì vậy muốn thoát khỏi khổ tâm cần phải
quan sát cảm thọ như chúng đang là, mà không nắm bắt hay loại bỏ chúng. Điều
này có thể làm được bằng cách quán cảm thọ như đã được mô tả rất rõ ràng trong
bài kinh Đại Niệm Xứ của Trường Bộ kinh, là một bài kinh rất quan trọng cho việc
tu tập. Trong bài kinh này, Đức Phật đã chỉ ra con đường độc nhất, đưa đến
thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh
lý, chứng ngộ Niết bàn, đó chính là chánh niệm trên thân, thọ, tâm và pháp.
Liễu Pháp
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét
Có viết cho nhau cả vạn lời,
Rằng thương rằng nhớ để rồi thôi,
Chi bằng trên đường đời vạn nẻo,
Sống Để Yêu Thương thế đủ rồi...