Một ngày, có đám khách xa lỡ tàu ngẫu
nhiên lạc bước đến thảo am lão thiền sư, một người đã lâu quên mất chuyện thù tạc
với đời. Thấy ông có vẻ kiệm lời nhưng không đến nỗi người trệ khẩu, đám khách
giết thời gian bằng mấy câu vấn đạo.
Khi được hỏi vì sao hiền thánh xưa giờ
có vẻ không tha thiết chuyện sử dụng thần thông phép mầu như nương mây cưỡi gió
về hưởng nhàn ở những chốn bồng lai tiên cảnh trên núi tuyết hay biển xa, mà cứ
một đời ẩn cư những thâm xứ quạnh hiu xa vắng, lão thiền sư nheo mắt nhìn người
hỏi:
- Chính thiên nhãn và huệ nhãn đã khiến
thánh nhân như vậy đấy. Ngồi yên mà thấy hết mọi sự, và biết có đến tận nơi thì
cũng không thấy thêm được cái gì ngoài những bóng nắng ảo hóa, thế bao nhiêu
phép màu gì đó có còn là chuyện hứng thú nữa không ?
Một cư sĩ tóc trắng vẻ người tân học nói
mấy câu tỏ ý nghi ngờ chuyện thánh nhân không thích gì. Ông nói sống ở đời
không thích ghét gì hết thì như cây không có nhựa sống. Lão thiền sư cứ có dịp
thì lại cười hề hề:
- Ngay đến kẻ phàm phu chỉ cần biết vài
chuyện ruồi bu cũng đủ khiến người ta hết thích này nọ, cần gì phải thánh mà
ông tin với không tin.
Chẳng hạn biết chắc lúc nào mình sẽ chết,
những chuyện buồn vui gì sẽ xảy đến ngày sau, hay thiên hạ đang nghĩ gì về
mình…Người biết được chừng đó thôi thì có cho làm ngọc hoàng cũng không vui nổi,
nói gì là thích. Ông nói rất đúng, thánh nhân giống hệt cội cây không còn nhựa
sống, phải vậy các ngài mới có thể viên tịch Niết bàn. Nhưng nói vậy không có
nghĩa là thánh nhân sống hắt hiu cằn cỗi như một kẻ muốn tự tử. Không còn ham
thích gì nhưng các ngài cũng chẳng bất mãn thứ chi. Mọi sự tùy duyên, không hy
cầu cũng không trốn chạy, thánh nhân sống bằng niềm thanh thản của một người
làm xong việc nằm chờ giấc ngủ đến. Đơn giản vậy thôi.
Một người khách nãy giờ ngồi im lặng một
góc bỗng hắng giọng hỏi một câu thiệt khó nghe:
- Tui bây giờ vẫn còn tin Phật, nhưng chỉ
muốn quy y Nhị Bảo, không kể Tăng Bảo được không ? Tăng ni thời nầy bó tay luôn
!
Lão thiền sư cười to như không thể dằn lại:
- Có cưới đâu mà đòi ly dị. Tăng bảo
trong Tam bảo chính là Pháp bảo được thể hiện qua con người. Người không có
Pháp bảo thì sao gọi là Tăng Bảo. Đối tượng mà ông bất mãn vốn không có trong
Tam Bảo.
Một người khách ngồi cạnh nghe vậy hỏi
thêm:
- Xin hỏi nếu không nhìn mặt những tăng
ni đó thì ai sẽ dạy đạo cho chúng con ?
Lão thiền sư khoát tay :
- Nếu họ bê bối mà có cái để dạy ông thì
chỉ nên nghe họ mà đừng nhìn họ. Nếu họ trong sạch mà dốt nát thì ta nên nhìn họ
mà không cần nghe. Nếu tăng ni không có gì để ta nghe hay nhìn thì ông mất thời
gian làm gì với thứ lỡ thầy lỡ thợ đó. Vã chăng, Phật Pháp là di sản của Phật để
lại cho người cầu đạo, không dành riêng cho tăng ni nào hết. Mình bại liệt hay
sao mà đến gia tài của bố để lại cũng phải nhờ người khác làm trung gian ban bố.
Cái mà tăng ni thời này có hơn cư sĩ chỉ
là thời gian rỗi rảnh, họ có điều kiện tham cứu hơn. Nếu cư sĩ biết dành thời
gian tự học nhiều hơn thì tăng ni chỉ là địa chỉ tham khảo !
Câu chuyện mỗi lúc một sâu và xa hơn, một
cậu cư sĩ trẻ tuổi nhìn thiền sư rồi hỏi :
- Xin hỏi người đi chùa ngày một đông và
chùa chiền ngày một tráng lệ sao có người lại bảo thời này là đời mạt pháp ?
Lão thiền sư bật cười:
- Tinh thần Chánh pháp không thể tính
trên số người đi chùa hay số đo chiều cao, chiều rộng của chùa tháp. Hãy chọn bừa
một vài người trong biển người đi chùa rồi hỏi họ lý do đến chùa, hay hỏi tăng
ni tiết mục nào quan trọng nhất trong các buổi lễ đông đảo, lúc đó ông sẽ thấy
chánh pháp chỉ là một khái niệm xa xỉ và viễn tưởng.
Thử hỏi ai là người phải chịu trách nhiệm
cho sự tình này ? Câu trả lời có lẽ phải là cả hai phía tăng ni và cư sĩ. Nói rốt
ráo thì tăng hay tục đều là khách trầm luân như nhau, cư sĩ có lòng cầu giải
thoát thì không thể tự cho mình cái quyền dễ ngươi trong cái gọi là đạo nghiệp
tu hành. Mai kia trên giường chết mọi người đều phải một bóng lên đường vào cuộc
đi mù mịt của kiếp tử sinh. Nhưng hiếm người cư sĩ thấy ra lẽ này. Vì sao lại
thế chứ ?
Bởi từ lâu ngày họ đã được hướng dẫn kín
đáo rằng cứ có nhiều tiền thì có thể nhờ người khác hộ niệm, khỏi phải tu học
gì hết. Trường hợp thứ ba còn thảm hơn: Cúng dường mạnh tay để quảng cáo bản
thân, tính ra rẻ tiền mà hiệu quả hơn việc lên báo, lên đài. Đại khái đời mạt
pháp là thời điểm mà hầu hết tăng ni và cư sĩ đều thích mở nhà hàng nhưng thức
ăn toàn là đồ hộp, chỉ việc khui ra hâm nóng rồi đặt lên bàn cho khách. Đó
không là mạt pháp thì còn chờ lúc nào nữa.
Khách lại hỏi thêm:
- Dám hỏi thiền sư một vài dấu hiệu đặc
trưng của đời mạt pháp để chúng con biết mà thêm tinh tấn ?
Thiền sư nhắm mắt một lát rồi nhìn xuống
trả lời:
- Đại khái tăng ni không muốn giỏi nhưng
thích được khen giỏi, khoái sống như phàm nhưng lại muốn được xem là thánh, coi
chùa quan trọng hơn Phật. Về phía cư sĩ, hiếm người đến với tăng ni để học đạo
giải thoát. Thường người đến chùa chỉ nằm trong vài ba trường hợp:
Do hoàn cảnh mà quen biết tăng ni rồi
lui tới như bè bạn, lâu ngày tự nhiên có được nhãn hiệu Phật tử, hoặc xem tăng
ni như trung gian giúp họ liên lạc với một cõi trên nào đó để van xin khấn khứa.
Những hướng dẫn sơ sài thiếu trách nhiệm
của tăng ni không đáng cho cư sĩ cúc cung tận tụy để hồi đáp. Một người bệnh
không có lý do gì phải một đời thờ phụng lang băm. Cái họ cần phải là thuốc
hay, thầy giỏi. Một quan hệ thầy trò dựa trên niềm tin mù quáng kiểu đó dễ khiến
đệ tử thành ra nô lệ hơn là học trò của thầy, một kiểu nô lệ chung thân không
có tiền công và cái họ nhận được chỉ là một xấp vàng mã !
Có câu chuyện đáng buồn này ta đọc được ở
đâu đó lâu lắm rồi, mà mỗi lần nhớ lại cứ nghe ngậm ngùi mà ray rức khôn nguôi.
Có đôi vợ chồng nhà kia nghèo khổ cơ cực
lắm, còng lưng làm lụng mà vẫn không đủ ăn, đã vậy mỗi ngày còn phải dành ra ít
tiền xương máu để trả dần một món nợ lớn mà họ đã vay từ nhiều năm trước. Nhắm
sống ở quê nhà không xong, họ dắt díu nhau biệt xứ đi làm thuê ở một chốn xa.
Ngày trả xong món nợ kia cũng là lúc họ đã bạc tóc, thân tàn ma dại, người quen
ngày nào gặp lại đố mà nhận ra họ là ai. Vậy mà trời xui đất khiến, một ngày
kia, giữa chốn xứ lạ quê người, hai vợ chồng nghèo kia gặp lại đúng người chủ nợ
năm nào. Đó là một người bạn cũ giàu có và tốt bụng.
Người bạn nhà giàu sững sờ nhìn cặp vợ
chồng nghèo trong bộ dạng tả tơi ốm đói:
- Sao lại ra nông nỗi nầy chứ, hai người
đi đâu mười mấy năm nay, rồi giờ sống ra sao mà ngó thảm quá thế này?
Hai vợ chồng nghèo nhìn nhau rồi lại
nhìn cô bạn giàu có, họ ngập ngừng ngượng nghịu một đổi rồi cô vợ nhìn vào mắt
người đối diện:
- Bồ có nhớ chuyện mười mấy năm trước đã
cho tui mượn sợi chuỗi ngọc để đi dự tiệc không ?
Cô bạn gật đầu:
- Nhớ chứ, vì hình như sau đó không lâu
thì bạn bè kháo nhau là hai người đã mất tích, không ai liên lạc được.
Người thiếu phụ nghèo khổ khó khăn lắm mới
có thể nói tiếp:
- Sau đêm đó tụi này làm mất chuỗi ngọc,
đến tận giờ cũng không biết nó đã rơi mất ở đâu hay bị ai lấy trộm, nói ra sợ bồ
không tin rồi nghĩ quấy.
Cô bạn nhà giàu nóng ruột:
- Rồi sao nữa hả?
Anh chồng của người thiếu phụ nói thay vợ:
- Tụi tôi cầm cố hết nhà cửa , bán luôn
miếng đất hương hỏa rồi mượn thêm chỗ này chỗ kia để có tiền tìm mua một xâu
chuỗi ngọc giống hệt của bà để đền lại. Rồi từ đó bỏ xứ đi luôn. Mãi đến gần
đây mới trả xong món tiền nợ năm đó. Giờ ra đường thấy ai đeo chuỗi ngọc giống
vậy cũng sợ điếng hồn không dám nhìn nữa.
Cô bạn giàu có nghe đến đó thì đưa hai
tay ôm đầu kêu trời:
- Úy trời đất, xâu chuỗi tôi cho hai người
mượn năm đó là đồ giả, đeo cho vui vậy thôi. Từ lúc mấy người đem trả lại đến
nay tôi có bao giờ đụng đến nó nữa đâu. Trời ơi là trời, vậy là tiêu mất một đời
của ông bà chỉ vì cái món đồ quỷ đó.
Cả ba người đều khóc, và cả ta nữa, lần
đầu đọc được câu chuyện đó cũng nghe xót xa không chịu nổi.
Nhưng câu chuyện đó không phải hư cấu
đâu, nó có thật và xảy ra từng ngày trên hành tinh này khi từng bữa trong thiên
hạ vẫn có biết bao người phải trả một cái giá thiệt đắt cho những thứ hàng hoá
không đáng để họ chạm tay. Đó là những sản phẩm chính trị, tôn giáo, xã hội…được
tạo ra từ những động lực như gian trá, ích kỷ, dốt nát, vô cảm, tắc trách mà
cái nào cũng độc hết, cái nào cũng để lại những tác hại là hút cạn sinh lực hay
khiến người ta hoang phí kiếp nhân sinh một cách oan uổng tức tưởi.
Lão thiền sư đột nhiên trỏ tay lên chiếc
đồng hồ trên vách:
- Đồng hồ chỉ bốn lăm rồi, hồi nãy ai
nói có chuyến tàu lúc 15, rửa mặt uống nước rồi tà tà đi là vừa. Đi mà trả cho
xong mấy món nợ đời!
Ông cười hiền khô, rồi đứng dậy vói lấy
tay nải, nói mà không nhìn ai trong đám khách:
- Ta có việc phải vào làng, am gần ga,
biết đâu lại có dịp mấy người lỡ chuyến tàu mà ghé đây gặp lại.
Dáng người gầy gò của nhà sư già nhanh
chóng chìm khuất trong đám lau trắng. Nắng chiều bỗng vàng rực như lửa, có chút
gió ở đâu thổi về mang theo cái mùi ngai ngái của một trại bò nào đó. Tiếng còi
tàu lửa vang lên từ cuối chân trời. Đám khách rời am và có người vừa đi vừa
ngoái đầu nhìn lại đồi lau. Thảo am của nhà sư già không còn ở đó nữa. Nó khuất
tầm nhìn của họ hay là nó chưa từng tồn tại…
Toại
Khanh