Chương
10: Nên nghĩa vợ chồng, Diệu - Xuân hết lòng vì chúa. - Bày trận thủy hoả, Nguyễn
Huệ diệu kế dụng binh.
Nói
về Tôn Thất Hương sai con là Tôn Thất Chính đem năm ngàn quân đi tiên phong vượt
đèo Thạch Tân đánh quân Tây Sơn, tự mình dẫn đại quân đi sau tiếp ứng. Đạo quân
tiên phong Tôn Thất Chính đi đến đâu quân Tây Sơn lui đến đấy. Tiến một mạch đến
chân núi Bích Kê thấy núi non trùng điệp cây cỏ um tùm. Chính sợ phục binh bèn
đóng đồn cách núi Bích Kê hai mươi dặm chờ đại binh trợ chiến. Tôn Thất Hương dẫn
đại binh đến nói:
-
Giặc không đánh trận nào mà chỉ lui quân. Chúng muốn bảo toàn lực lượng dụ ta
vào eo núi này mà đánh. Kể ra cũng lắm mưu nhiều kế, nhưng lừa ta sao được.
Vừa
nói dứt lời bỗng nghe tiếng trống dập dồn, tiếng quân hò reo vang trời dậy đất,
quân Tây Sơn từ trong núi xông ra. Đi đầu là hai viên tướng đầu đội mũ lông
thú, mình mặc giáp trụ uy nghi, toàn quân đều mặc áo đỏ, ào ào xông đến. Tôn Thất
Hương sai quân dàn trận sẵn sàng đợi địch. Hai bên giáp chiến, chém giết rất
hăng. Tôn Thất Hương thấy quân Tây Sơn dũng mãnh tiền quân núng thế liền sai
con là Tôn Thất Đính chia hậu quân làm hai cánh tiến lên đánh vào hai bên sườn
địch. Vũ Văn Nhậm trông thấy liền đánh trống thu quân. Quân Tây Sơn làm như hỗn
loạn theo đường đèo mà chạy. Tôn Thất Chính xua tiền quân đuổi tràn theo. Bỗng
nghe chuông thu quân liền quay ngựa lại hỏi:
-
Thưa cha! Sao không nhân lúc thắng trận đuổi theo giặc đánh giết một trận rồi
chiếm lại thành Quy Nhơn cho rồi?
Tôn
Thất Hương nói:
-
Con còn nhỏ chưa từng xông pha trận mạc nên không biết đấy thôi. Hãy nhìn xem
hai bên sườn núi có phục binh.
Tôn
Thất Đính ngơ ngác hỏi:
-
Thưa cha, con có thấy phục binh nào đâu?
Tôn
Thất Hương cười bảo:
-
Nếu phục binh mà cho ta thấy thì sao gọi là phục được. Hãy quan sát thiên nhiên
để biết điều nhân sự. Ở cánh rừng hai bên sườn núi rộng chừng vài dặm chim chóc
tự nhiên bay lên hàng đàn thì trong ấy chẳng phải có phục binh đó ư!
Đính
và Chính cùng nói:
-
Cha liệu việc như thần. Giờ ta phải tính kế nào qua khỏi đèo này?
Hương
đáp:
-
Việc này ta đã có kế!
Nói
xong bèn viết một phong thư sai sứ giả đem trao cho Tây Sơn Nguyễn Nhạc, rồi
kéo đại binh lui về đóng đồn ở phía Nam sông Lại Dương.
oOo
Nguyễn
Nhạc nhận thư Tôn Thất Hương bèn hội các tướng bàn việc quân. Nhạc nói:
-
Tôn Thất Hương biết kế mai phục của ta nên không đuổi theo tiền quân Nhậm và
Dũng. Nay lại cho người đưa thư nói rằng: Quân ta khởi binh tôn phò Hoàng tôn
Dương là thuận lòng trời hợp lòng người, hắn bất đắc dĩ nghe lệnh tổng trấn Quảng
Nam dinh là Nguyễn Phúc Nghiêm nên phải đem quân chinh chiến chứ lòng chẳng muốn.
Nguyễn Phúc Nghiêm rất thích ăn thú rừng, trong dinh lúc nào cũng nuôi vài mươi
con để dùng dần. Nay nếu quân ta nộp cho hắn nai hươu, lợn rừng, mang mển, dê rừng,
mỗi thứ hai mươi con, cả thảy một trăm con còn sống, hắn sẽ đem dâng cho trấn
thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiêm, rồi lựa lời ngon ngọt để Nghiêm đừng hối thúc
việc quân, ấy là kế hoãn binh. Sau đó hắn sẽ sai người tâm phúc ra kinh thành mật
báo với Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương bỏ kinh thành vào với quân ta để đánh đổ
Trương Phúc Loan. Không biết những lời ấy là thật hay có ẩn ý gì?
Nhạc
nói xong có quân thám mã về báo:
-
Địch lui về một trăm dặm đóng quân ở phía Nam sông Lại Dương.
Quân
sư Trương Văn Hiến cười rằng:
-
Tôn Thất Hương quả nhiên trí dũng hơn người, lại rất rành binh pháp. Nay đang
là mùa hè nóng nực gió Nam thổi mạnh khí hậu khô rốc, nên hắn lui về đóng quân
gần sông Lại Dương để nhờ hơi nước ẩm mát giữ gìn sức khoẻ tướng sĩ và tránh xa
núi này để dễ đề phòng quân ta tập kích, đồng thời cho ta tin rằng hắn có thiện
ý như đã viết trong thư, người như thế thật đáng là danh tướng.
Nguyễn
Nhạc nghi ngờ hỏi:
-
Quân sư nói vậy có nghĩa là hắn có mẹo gì ư?
Hiến
trầm ngâm đáp:
-
Núi rừng mùa khô rất dễ bị địch dùng hỏa công mà đốt. Nhưng quân triều đóng ở
phía Bắc, mà gió Nam đang thổi ngược ra, nên Tôn Thất Hương không thể dùng hỏa
công đốt núi. Nay nếu ta nộp đủ trăm con thú, hắn sẽ cho đại quân tiến sát rừng
rồi bất ngờ thả thú có mang lửa và chất dẫn hoả trên mình. Thú rừng tất sẽ chạy
vào rừng. Ấy là không thuận gió mà vẫn có thể dùng hoả công, khi ấy ắt là phục
binh của ta sẽ làm mồi cho lửa.
Nguyễn
Nhạc giật mình hỏi:
-
Tôn Thất Hương quả nhiên lợi hại. Nếu ta không nộp thú cho hắn thì hắn làm thế
nào?
Hiến
đáp:
-
Hắn tiên liệu rằng nếu ta không nộp thú ắt phải hẹn ngày để dùng kế hoãn binh. Ấy
là hắn dùng kế hoãn binh của ta để làm kế hoãn binh của hắn. Rồi nhân lúc ta
không đề phòng, hắn chia quân dùng thuyền nhỏ ra cửa biển An Giũ vượt qua núi
Bích Kê vào cửa biển đầm Đạm Thủy rồi đổ bộ đánh vào sau lưng ta. Khi ấy hắn
phóng hỏa đốt núi thì quân ta nguy mất.
Hiến
vừa dứt lời viên tiểu tướng vào báo:
-
Bẩm trại chủ, có hai viên tướng người Tàu tên là Lý Tài và Tập Đình đem quân
vào cửa biển Đạm Thủy xin nương nhờ quân ta và xin lương thực. Tướng quân Nguyễn
Văn Tuyết không dám quyết nên sai tôi đến xin lệnh trại chủ.
Nguyễn
Nhạc hỏi:
-
Hai viên tướng ấy hiện ở đâu?
-
Một người theo tôi đến đây đang chờ ngoài doanh trại.
Nhạc
liền cho mời vào hỏi:
-
Chẳng hay tướng quân là người ở phương nào, vì sao phải đến đây nương nhờ Tây
Sơn ta?
Người
ấy đáp:
-
Tôi tên Lý Tài và người anh em kết nghĩa tên Tập Đình quê ở Quảng Đông nguyên
là thuộc tướng của nhà Minh. Chúng tôi dấy binh phản Thanh phục Minh, nên bị
quân Thanh đánh đuổi, không còn đất dung thân phải theo đường bể chạy về đây.
Hiện nay quân lương hết sạch xin Chúa công thương tình cho mảnh đất dung thân,
cấp lương thảo qua cơn hoạn nạn. Nếu có gì sai bảo anh em tôi xin đem thân khuyển
mã báo đền.
Nói
xong khóc lạy. Nhạc động lòng nói:
-
Việc ấy đối với ta chẳng khó gì. Nhưng từ Quảng Đông đến đây đường xa vạn dặm,
sao tướng quân không vào Bắc Hà xin nương nhờ chúa Trịnh mà phải vượt sóng gió
đến nơi này?
Lý
Tài gạt nước mắt đáp:
- Ở
Bắc Hà vua Lê chúa Trịnh đang chịu thụ phong và nộp cống cho nhà Thanh. Nếu tôi
vào đất ấy thì có khác gì làm mồi cho kẻ muốn tâng công. Trên đường đi có ghé
vào Phú Xuân thì bị quân chúa Nguyễn đánh đuổi bảo tôi là cướp bể. Rồi cứ thế
đi lần vào phương Nam. Hôm tháng trước tình cờ gặp một toán quan quân đi thuyền
ra Phú Xuân, hỏi ra mới biết đó là quan Trấn thủ thành Quy Nhơn bị Chúa công
đánh đuổi. Tôi trộm nghĩ Chúa công vì dân nghèo dấy nghĩa ắt thương kẻ đường
cùng, vả lại không lệ thuộc vào người nào ắt là nương nhờ được. Nên mới mạo muội
đến đây xin Chúa công mở lượng hải hà.
Nói
xong lại khóc lạy. Nguyễn Nhạc cảm động đỡ Lý Tài dậy hỏi:
-
Tướng quân hiện có bao nhiêu quân, đang đồn trú ở đâu?
Lý
Tài đáp:
-
Tôi hiện còn một ngàn quân và năm mươi chiếc thuyền, hết lương nên cho thuyền
vào cửa bể Đạm Thủy. Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết đem quân ra đánh. Tôi treo cờ
trắng và bỏ khí giới, Tuyết tướng quân cho đóng tạm trong đầm Đạm Thủy.
Nhạc
quay sang hỏi Trương Văn Hiến:
-
Ý quân sư thế nào?
Văn
Hiến đáp:
-
Thấy người cùng đường không cứu thì đâu phải là chính nghĩa. Xin trại chủ cấp
cho họ một ngàn hộc thóc. Khi có việc cần nhờ họ giúp một tay, ấy là cả hai
cùng có lợi vậy.
Nhạc
nghe lời, nói với Lý Tài:
-
Tướng quân hãy quay về tạm neo thuyền trong đầm Đạm Thủy, ta sẽ cho người vận tải
lương thực, và lệnh cho Tuyết tướng quân trả khí giới cho binh sĩ của tướng
quân. Hiện nay quân ta đang chống nhau với binh triều Nguyễn. Tướng quân cứ nghỉ
cho khoẻ, khi cần có thể vì ta mà giúp một tay chăng?
Lý
Tài mừng rỡ lạy tạ ơn:
-
Ơn sâu của Chúa công nguyện kết cỏ ngậm vành. Dù nhảy vào dầu sôi lửa bỏng tôi
quyết chẳng từ nan.
Nói
rồi lạy tạ ra đi. Võ Đình Tú đứng lên nói:
-
Thưa trại chủ, tôi thấy người này mắt lươn, môi mỏng, mũi thời nhọn, mà nhân
trung thời ngắn ắt không phải người ngay. Xin trại chủ chớ khá tin dùng.
Văn
Hiến cười khen Đình Tú:
-
Đình Tú tuổi còn nhỏ mà biết xem tướng nhìn người, quả có mắt tinh đời. Ta cũng
biết thế nhưng cứ đem ân đức mà cảm hoá ấy chẳng phải là con đường nhân đạo hay
sao? Nếu về sau ăn ở hai lòng ta sẽ liệu sau, Đình Tú đừng ngại. Bây giờ trại
chủ hãy đưa thư hẹn Tôn Thất Hương trong nửa tháng nộp đủ số thú rồi kíp sai
người triệu Nguyễn Huệ đem quân hợp sức định ngày phá địch.
oOo
Nói
về Nguyễn Huệ sau khi lấy thành Quy Nhơn vâng mệnh anh về Tây Sơn Thượng cùng nữ
tướng Bùi Thị Xuân dời trại luyện binh xuống miền Tây Sơn Hạ. Trần Quang Diệu
đem năm trăm quân đến gia nhập nghĩa quân. Diệu nói:
-
Tôi vâng lệnh tướng quân đem quân bản bộ mở đường Thượng đạo. Tôi theo lối mòn
của người Thượng thông thương với nhau, nên đường núi này trong có thể vào đến
Bình Thuận, ngoài có thể ra tới Nghệ An. Nay việc đã xong đem quân về phục mệnh.
Nguyễn
Huệ mừng rỡ vỗ vai Diệu khen:
-
Tướng quân thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Mở được con đường này coi như ta
đã hoàn thành một nửa sứ mệnh đập đổ hai nhà Trịnh Nguyễn, xoá bỏ ranh giới
Linh Giang, đem giang sơn về một mối, mang lại thái bình cho trăm họ rồi vậy.
Nay quân ta chiếm thành Quy Nhơn, đang tiến ra thu phục hai huyện Phù Ly và Bồng
Sơn, tôi vâng lệnh đại huynh dời doanh trại xuống miền Tây Sơn Hạ để huấn luyện
tân binh. Tôi và cô Xuân phải gấp đi ngay, phiền tướng quân tạm ở lại đây chờ
người Thượng mang voi đến nộp, rồi xuống hội quân ở Tây Sơn Hạ. Chẳng hay tướng
quân có vui lòng chăng?
Trần
Quang Diệu khẳng khái đáp:
-
Đã là việc quân thì phải gạt bỏ tình riêng sao tướng quân lại hỏi vui hay không
vui?
Nguyễn
Huệ vờ hỏi:
-
Sao tướng quân lại nói là gạt bỏ tình riêng? Có phải tướng quân còn phu nhân ở
quê quán hay chăng?
Diệu
thành thật đáp:
-
Tôi chưa gặp được ý trung nhân nên chưa thành gia thất.
Huệ
lại quay sang Bùi Thị Xuân hỏi:
-
Còn cô Xuân quê nhà ở Tây Sơn Hạ, lâu nay vì việc quân mà phải xa nơi chôn nhau
cắt rốn. Nay được về nơi ấy nên vui mới phải, sao nét mặt lại ưu phiền như thế?
Bùi
Thị Xuân ngập ngừng đáp:
-
Tôi lâu nay huấn luyện tượng quân ở nơi này có đôi phần quen người quen cảnh,
nay ra đi cũng ít nhiều lưu luyến vài kỷ niệm mà thôi.
Huệ
bật cười ha hả hỏi:
-
Có phải kỷ niệm xạ tiễn giết hổ cứu người không?
Trần
Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng thẹn thùng cúi mặt. Nguyễn Huệ cầm tay Diệu và
Xuân nói:
-
Nỗi lòng của hai người ta đã rõ. Nếu ta không làm cầu Ô Thước thì biết bao giờ
Ngưu Lang, Chức Nữ mới gặp được nhau đây? Thôi tướng quân hãy cùng theo về Tây
Sơn Hạ, ta sẽ xin phép Bùi ông tác hợp cho hai người.
Quang
Diệu ái ngại hỏi:
-
Vậy còn việc nhận voi của người Thượng phải tính thế nào?
Huệ
cười đáp:
-
Lão làng tự khắc sai người mang về Tây Sơn Hạ. Lúc nãy ta nói thế là lập mưu
cho rõ lòng hai vị mà thôi.
Diệu
và Xuân đồng thanh nói:
-
Đa tạ tướng quân thương tình tác hợp.
Về
đến Tây Sơn Hạ, Huệ đứng ra chủ hôn cử hành hôn lễ cho Trần Quang Diệu và Bùi
Thị Xuân. Việc vừa xong có quân đến đưa thư của Nguyễn Nhạc. Nguyễn Huệ mời Trần
Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đến giở bản đồ ra nói:
-
Tổng binh Quảng Nam dinh là Tôn Thất Hương đem ba vạn quân vào đóng ở phía Nam
sông Lại Dương. Đại huynh cùng quân sư đem toàn quân trong thành Quy Nhơn hợp với
quân Nhậm và Dũng đóng tại núi Lại Khánh và núi Bích Kê chặn địch. Đại huynh bảo
ta kíp đem quân hợp sức phá giặc. Nay hai người mới nên duyên gia ngẫu, vì việc
quân khẩn cấp ta có việc muốn nhờ Diệu, trong lòng ái ngại lắm thay.
Diệu
vòng tay nói:
-
Tôi đã thưa với tướng quân, vì việc quân phải gạt bỏ tình riêng. Xin tướng quân
xuống lệnh tôi dù phải phơi gan trải mật chẳng dám chối từ.
Huệ
chỉ vào bản đồ nói:
-
Phiền tướng quân đem năm trăm quân bản bộ ngược theo đường Thượng đạo ra huyện
Bồng Sơn đến thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chặn nước rồi đốn cây thả ở
trên đập, chờ khi nào thấy lửa cháy, nghe tiếng súng nổ ở hạ lưu Lại Dương
Giang thì sai quân phá đập. Ta muốn mượn dòng nước này chặn đường lui quân của
binh Nguyễn triều. Còn cô Xuân ở lại giữ doanh trại, huấn luyện tượng binh. Ta
kíp đem quân hợp sức với đại huynh phá địch.
oOo
Nguyễn
Huệ dẫn quân đến phía Nam núi Bích Kê và núi Lại Khánh, quân Tây Sơn trông thấy
hô vang:
-
Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan.
Nguyễn
Nhạc ở trong doanh trại nghe tiếng ồn ào liền hỏi:
-
Ngoài kia có việc gì mà binh sĩ náo động thế?
Quân
canh đáp:
-
Thưa trại chủ, tướng quân Nguyễn Huệ dẫn quân về, tướng sĩ trông thấy mừng rỡ
hô vang rằng: Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan đấy ạ!
Nguyễn
Nhạc liền cho triệu Nguyễn Huệ cùng các tướng họp bàn việc quân. Huệ quỳ tâu:
-
Em vâng lệnh đại huynh đến phục mệnh. Nghe nói Tôn Thất Hương đem đại binh đóng
ở phía Nam sông Lại Dương. Thưa đại huynh việc ấy có không?
Nguyễn
Nhạc chưa kịp trả lời. Vũ Văn Dũng bước ra nói:
-
Đúng là như vậy. Lúc tôi cùng Vũ Văn Nhậm chiếm xong huyện Bồng Sơn, thì binh
triều đem ba vạn quân vượt đèo Thạch Tân đánh xuống. Trại chủ lệnh cho tôi cùng
Nhậm không được đánh mà cứ giả vờ sợ hãi chạy một mạch đến đây. Nay có sư huynh
đến xin trại chủ cho chúng tôi cùng sư huynh ra huyết chiến một phen.
Nguyễn
Huệ trấn an Văn Dũng:
-
Sư đệ đừng nên nóng nảy. Đại huynh và quân sư ắt có kế rồi đây.
Rồi
quay sang Hiến, Huệ hỏi:
-
Nay kế phá giặc đại huynh và quân sư định liệu thế nào xin xuống lệnh, chúng
tôi lập tức ra trận lập công.
Trương
Văn Hiến trầm ngâm đáp:
-
Tôn Thất Hương dùng kế hoãn binh bắt ta nộp cho hắn một trăm con thú, hắn sẽ
lui binh. Ta sẽ tương kế tựu kế hẹn nửa tháng sẽ giao nộp đủ, rồi lệnh cho Nguyễn
Văn Tuyết cùng Lý Tài phục thủy binh ở cửa biển đầm Đạm Thủy, nhất định hắn sẽ
chia quân đi đường thủy vào cửa bể này đánh sau lưng doanh trại của ta. Đợi khi
Tuyết phá địch ở đầm Đạm Thủy xong, đại binh của ta sẽ đánh vào đại bản doanh của
chúng bên bờ sông Lại Dương, thì việc đuổi chúng ra khỏi đèo Thạch Tân nào có
khó gì.
Nghe
xong Nguyễn Huệ tâu:
-
Đại huynh đưa thư hẹn với hắn cứ một ngày nộp mười con, trong mười ngày sẽ nộp
đủ số thú rừng, để hắn khinh thường là ta đã trúng kế của hắn. Sau ba ngày tôi
xin đem năm ngàn quân làm tiên phong đánh giặc. Nếu không phá được binh triều
xin về đây chịu chém đầu theo tướng lệnh.
Nguyễn
Nhạc nổi giận vỗ án quát:
-
Ngươi là đứa con nít cứ cậy khoẻ nói càn, quân ta một vạn chưa dám ra giữa chiến
trường đánh nhau với ba vạn quân địch. Cái đầu ngươi nào có sá gì, nhưng còn
tính mạng năm ngàn quân của ta thì sao?
Văn
Hiến đứng dậy can rằng:
-
Xin trại chủ bớt giận. Huệ nói vậy ắt là có kế sách - Rồi quay sang hỏi Huệ -
Con định đánh thế nào mà năm ngàn quân có thể phá được ba vạn quân của địch?
Huệ
quỳ tâu:
-
Thưa thầy, con sẽ cho quân đối mặt giáp chiến với binh triều.
Nói
chưa dứt lời, Trương Văn Hiến lắc đầu, các tướng Nhậm, Dũng, Tú đều ngơ ngác
nhìn nhau. Nguyễn Nhạc thấy thế lại vỗ án hét lớn:
-
Sức ngươi đã bạt sơn cử đảnh như Hạng Võ ngày xưa chưa mà cậy khoẻ ngông cuồng?
Nguyễn
Huệ sợ hãi quỳ lạy:
-
Em chưa hết lời xin đại huynh bớt giận. Nguyên là nhờ hồng phúc của đại huynh,
em vừa chế được một thứ binh khí, một quân ta có thể đánh được mười quân địch.
Nguyễn
Nhạc nghi ngờ hỏi:
-
Thứ vũ khí nào mà lợi hại thế? Nếu còn nói càn ta quyết trị tội không tha!
Nguyễn
Huệ vội gọi quân mang vào một cây sắt vừa vặn tay cầm, dài chừng hai thước. Huệ
cầm lên nói:
-
Đây là cái ống bằng đồng, rỗng ở bên trong, có hai khoen dùng để gắn một cây đuốc
ở ngay miệng ống. Trong ống đựng đầy một thứ nhựa cây, khi ra trận chỉ cần cầm ống
này vung về phía địch, nhựa trong ống văng ra, gặp lửa ở miệng ống lập tức bốc
cháy. Giặc bị phỏng tất phải văng gươm mà chạy. Thứ nhựa cây này văng đâu dính
đó, phủi không rời, dập không tắt, sức nóng vô cùng, anh em ba quân gọi là hỏa
hổ, xin đại huynh xem xét.
Văn
Hiến lấy làm lạ hỏi:
-
Thứ hỏa hổ này cổ kim chưa từng nghe nói. Huệ lấy đâu ra nhựa cây ấy?
Nguyễn
Nhạc cầm ống hỏa hổ săm soi nói:
-
Thứ nhựa cây của người Thượng lấy ở trên rừng, ban đêm cần ánh sáng thì thay dầu
mà đốt. Ta từng sống với người Thượng bao nhiêu năm mà chẳng nghĩ ra. Nguyễn Huệ
quả nhiên là thần cơ diệu toán. Truyền quân chuẩn bị xuất quân. Phong Nguyễn Huệ
là tiên phong, Văn Dũng làm phó tướng đem năm ngàn quân đánh vào trại địch. Ta
sẽ đem đại binh tiếp ứng.
Nguyễn
Huệ nói:
-
Em đã cho bộ tướng là Trần Quang Diệu đem năm trăm quân chặng đường về của địch.
Ba vạn quân triều không thể nào chạy khỏi Lại Dương Giang. Đại huynh kíp ra chiếu
lệnh truyền Lý Tài và Tập Đình dẫn một ngàn binh bản bộ đem chiến thuyền vào cửa
biển An Giũ rồi án binh bất động, khi nào thấy lửa cháy ở bờ phía Nam sông Lại
Dương thì đem quân theo bờ Bắc bất ngờ đánh lấy đèo Thạch Tân, ắt là toàn thắng.
Trương
Văn Hiến xua tay nói:
-
Tôn Thất Hương là đại tướng của chúa Nguyễn rất giỏi dụng binh, dù quân thua vẫn
trật tự mà lui. Trần Quang Diệu đem năm trăm quân sao chặn được đường về của ba
vạn quân địch.
Các
tướng đều nói:
-
Lời quân sư hữu lý.
Nguyễn
Huệ giãi bày rằng:
-
Tôi sai Trần Quang Diệu đem năm trăm quân lên thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập
chặn nước rồi đốn cây thả ở đầu dòng, hẹn thấy lửa cháy ở hạ lưu sông Lại thì
phá đập. Nước và gỗ sẽ đổ xuống như thác, quân triều dù mọc cánh cũng không qua
khỏi Lại Dương Giang.
Văn
Hiến cười ngặt nghẽo nói rằng:
-
Huệ ơi con đã tính nhầm rồi. Nay đang là mùa nắng hạn, sông Côn còn phải cạn
trơ gò huống hồ là sông Lại Dương, thì nước đâu mà con đắp đập ngăn sông?
Nguyễn
Huệ đáp:
-
Thưa thầy, thông thường mùa này các sông đều khô cạn, nhưng đặc biệt con sông Lại
Dương mùa mưa thì không bị lụt lớn, mùa nắng hạn nước vẫn tràn đầy. Bởi thế
nhân dân trong vùng thường có câu hát rằng “Nước Lại Dương mênh mang mùa nắng,
dòng sông Côn lai láng mùa mưa”. Xin thầy cùng đại huynh an tâm, đánh trận này
nếu có một tên quân Nguyễn triều qua được bờ bắc Lại Dương Giang, Huệ tôi xin về
chịu tội.
Trương
Văn Hiến ngạc nhiên nói:
-
Trong cõi trời đất này lại có con sông lạ lùng thế sao? Nếu quả vậy là trời
giúp ta rồi đó. Nguyễn Huệ biết dùng cỏ cây, nước lửa thay cho quân lính thật
là tài năng hiếm có trên đời. Ta trước dạy binh thư võ nghệ cho Huệ, nhưng tùy
cơ mà ứng dụng binh pháp cũng không bằng Huệ vậy. Tâu trại chủ cứ theo kế ấy mà
làm, trận này nhất định bắt sống cha con Tôn Thất Hương.
xem tiếp: * Chương 11: Sông Lại Dương, cha con Tôn Thất Hương tận trung bỏ mạng. - Núi Thạch Tân, anh em Lý Tài tàn sát hàng quân.
xem tiếp: * Chương 11: Sông Lại Dương, cha con Tôn Thất Hương tận trung bỏ mạng. - Núi Thạch Tân, anh em Lý Tài tàn sát hàng quân.
Không có nhận xét nào :
Đăng nhận xét
Có viết cho nhau cả vạn lời,
Rằng thương rằng nhớ để rồi thôi,
Chi bằng trên đường đời vạn nẻo,
Sống Để Yêu Thương thế đủ rồi...